Thị trường sữa cạnh tranh khốc liệt

by Tuấn Nguyên on 26/05/2013 · 0 comments

 sua ngoai 4cc6d Thị trường sữa cạnh tranh khốc liệtNgành sữa Việt Nam được đánh giá là “hot” nhất khu vực khi có mức tăng trưởng trung bình 20% năm. Chừng 60 doanh nghiệp trong nước đang vừa phải cạnh tranh nhau, vừa phải dè chừng các đối thủ ngoại.

Cuộc chiến không khoan nhượng

Tại các hội thảo mới đây, trong lúc các vị đại diện của đầy đủ các tên tuổi lớn trên thị trường sữa đang rôm rã trò chuyện, tay bắt mặt mừng, một chuyên gia nhìn, cười ẩn ý: ” Trông bề ngoài thế thôi chứ bên trong là cả một cuộc chiến không khoan nhượng đấy”.

Theo Công ty Nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanel, thị trường sữa Việt Nam năm 2012 có giá trị ở mức 40.000 tỷ đồng, tương đương 2 tỷ đô la Mỹ. Số liệu này đo được từ khoản tiêu dùng sữa trong nhà tại 4 thành phố lớn chính là Hà Nội, TPHCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và khu vực nông thôn. Theo ông Trần Bảo Minh, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Sữa quốc tế (IDP) tổng giá trị thị trường sữa đang ở mức 3 tỉ đô la Mỹ. Kantar Worldpanel dự báo con số này sẽ lên mức 70.000 tỉ đồng vào năm 2015.

Sữa bột là mảng thị trường cạnh tranh hết sức khốc liệt khi biên độ lợi nhuận của ngành hàng này đang được đánh giá là hết sức béo bở. Theo số liệu từ Bộ Công Thương, năm 2012, thị trương Việt Nam tiêu thụ khoảng 65.000 tấn sữa bột, tương đương doanh số khoảng 2.300 tỉ đổng, trong đó, khoảng 70% là sữa ngoại nhập. Các thương hiệu sữa bột từ các nhà sản xuất như Abbort, Mead Johnson, Dutch Lady, Nestlé, Dumex, XO… đang chiếm thế thượng phong với 70% thị phần, 30% còn lại từ các nhà sản xuất trong nước. Vinamilk đóng góp 30% sản lượng nhưng chỉ chiếm 18% về giá trị. Giá sữa bột trong năm năm qua đã tăng tới 30 lần và chưa biết khi nào dừng lại.

Sữa nước là cuộc chiến chủ yếu giữa các nhà sản xuất trong nước. Ngành hàng này đang chứng kiến sự gia tăng dần của phân khúc sữa tươi, đến nay đã chiếm đến 30%, 70% còn lại là sữa hoàn nguyên có nguyên liệu từ sữa bột. Cuộc cạnh tranh giữa các sản phẩm sữa tươi thể hiện qua các chiêu thức tiếp thị với những câu chuyện về sữa sạch, sữa tươi 100%, trong khi cuộc chiến của sữa hoàn nguyên cũng không kém phần gay cấn.

Giá nguyên liệu trong những năm qua trên đà tăng mạnh. Theo bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc Vinamilk, cuối năm ngoái, giá sữa bột nguyên liệu chỉ khoảng 3.300-3.400 đô la Mỹ/tấn, nay đã lên tới 4.800 đô la Mỹ/tấn. Điều đó đang thúc đẩy các nhà sản xuất sữa đầu tư mạnh vào vùng nguyên liệu, từ xây dựng trang trại riên đến hỗ trợ nông dân nuôi bò sữa. Trong bối cảnh giá nguyên liệu tăng cao, nhu cầu lớn, cuộc đua nắm nguồn nguyên liệu (để làm chủ thị trường) càng quyết liệt hơn giữa các nhà sản xuất.

TH Milk đã mạnh tay đầu tư 350 triệu đô la Mỹ để xây dựng trang trại bò sữa ở Nghệ An. Đàn bò ở trang trại này hiện có 22.000 con, và với mục tiêu đứng đầu phân khúc sữa tươi, TH Milk có kế hoạch nâng đàn bò lên 100.000 con trong thời gian tới. Vinamilk cũng đã bỏ ra hơn 700 tỉ đồng để xây dựng năm trang trại bò sữa hiện có 8.100 con. Công ty này đang tìm đất để mở rộng đầu tư ra nhiều khác, trước mắt sẽ khởi động một trang trại bò sữa ở Thanh Hóa quy mô 3.000 con vào tháng 6 tới đây. Cũng ở tỉnh này, Vinamilk đã được Chính Phủ đồng ý về chủ trương để hợp tác với một nông trường phát triển trang trại bò 25.000 con trên diện tích 2.600 héc ta. Frieslandcampina cũng có chương trình hỗ trợ 3.000 nông hộ phát triển đàn bò nguyên liệu lên tới hơn 30.000 con trong năm 2012. Ở quy mô nhỏ hơn, IDP dành khoảng 600 tỉ đồng hỗ trợ các hộ nuôi đàn bò sữa 10.000 con, tạo nguồn nguyên liệu chủ lực của công ty là sữa tươi và sữa chua.

Thống kê cho thấy đến hết năm 2012, đàn bò sữa cả nước có gần 170.000 con, tăng 17% so với năm trước. Số lượng bò đang cho sữa chiếm khoảng 60% và chỉ đáp ứng chưa tới 30% nhu cầu sản xuất sữa nước.

Năm 2012, theo một số liệu, chế biến sữa từ nguyên liệu trong nước đáp ứng 28% nhu cầu; chế biến từ nguyên liệu nhập khẩu đáp ứng 50%; 22% còn lại là nhập khẩu sữa thành phẩm.

Cũng năm 2012, kim ngạch nhập khẩu sữa và các sản phẩm làm từ sữa là gần 850 triệu đô la Mỹ, không tăng so với năm 2011

Cục diện ngành sữa

Tiềm năng tăng trưởng của ngành sữa Việt Nam còn cao khi bình quân một người Việt mới chỉ uống khoảng 20 lít sữa/năm, khá thấp so với mức trung bình trên thế giới và các quốc gia trong khu vực. Nhưng cuộc chơi trong những năm tới sẽ vẫn phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu với sự tham dự của những tay chơi mới. Bên cạnh đó, ở trong nước, ngoài Vinamilk và Nutifood, “miếng bánh” sữa bột dường như đang bị bỏ quên khi các doanh nghiệp chỉ cạnh tranh nhau ở phân khúc sữa nước.

Vinamilk đã xác lập một vị thế dẫn đầu với mục tiêu 3 tỉ đô la Mỹ vào năm 2017. Một trong những chiến lược cạnh tranh vủa công ty này là lấy thị phần từ đối thủ, đặc biệt là ngành hàng sữa bột. Sau một thời gian dài sản xuất các dòng sản phẩm bình dân và đại trà, nay Vinamilk đang tập trung vào các sản phẩm cao cấp, trên cả ba ngành hàng: sữa nước, sữa bột và sữa chua. Hai “siêu nhà máy” sữa bột và sữa nước mới là những con át chủ bài trong chiến lược này, và công ty có khuynh hướng dần dẹp bỏ các nhà máy sản xuất nhỏ.

Các đối thủ cũng không ngồi yên, như TH Milk đặt mục tiêu doanh số 1 tỉ đô la Mỹ cũng vào năm 2017, một mục tiêu đầy tham vọng so với doanh số chừng hơn 3.000 tỉ đồng vào năm 2012. IDP cũng đang hướng tới doanh số khoảng 7.000 tỉ đồng vào năm đó, từ doanh số kế hoạch 2.000 tỉ đồng năm nay.

Như đã đề cập, các “tay chơi” nước ngoài đang tập trung chủ yếu ở “sân chơi” sữa bột, nơi biên độ lợi nhuận đang hết sức hấp dẫn. Theo ông Minh của IDP, tỷ suất lợi nhuận của các nhà sản xuất sữa bột trong nước vào khoảng 40-50%, trong khi các nhà sản xuất nước ngoài lên tới trên 70%.

Chất lượng của sữa trong và ngoài nước đang ngày càng gần nhau nhưng giá thì vẫn còn chênh lệch lớn. Một nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng quốc gia trên hai nhóm trẻ, một sử dụng sữa ngoại, một sử dụng sữa nội cho kết quả về các thông số phát triển chiều cao, cân nặng ngang nhau. Khi thuế suất nhập khẩu ngành sữa về mức 0% thì chênh lệch chi phí sản xuất giữa sữa ngoại và sữa nội dường như không còn. Dù vậy, giá sữa nội chỉ đang ở mức 40-50% so với sữa ngoại.

Bao giờ giá sữa ở Việt Nam trở về giá trị thực từ tình trạng bong bóng hiện tại? Vấn đề là liệu có doanh nghiệp nào dám tiên phong, dám chấp nhận một mức lợi nhuận thấp cũng như dám hứng chịu búa rìa từ đối thủ khác?

Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn

Bài Liên Quan:

{ 0 comments… add one now }

Leave a Comment

Trang 1 / 11